jump to navigation

Khắc phục chat trên YM mà không hiện chữ 04/09/2009

Posted by anhcaxomlieu in IT, Thủ thuật.
Tags:
2 comments

Vào Start –> Run Nhập vào dòng sau : regsvr32 vbscript.dll (tốt nhất bạn nên copy và past vào) –> chọn OK Nó sẽ hiện ra “DllRegisterServer in …. succeeded” , bạn chọn OK tiếp Tương tự thực hiện (Start –> Run …. ) với dòng sau : regsvr32 jscript.dll

Thủ thuật hay dùng nhất trong Excel 06/08/2009

Posted by anhcaxomlieu in Excel.
add a comment

Để giúp các bạn khai thác các tính năng ưu việt trong công tác xử lý bảng tính đối với phần mềm Microsoft Excel, xin giới thiệu một số thủ thuật được coi là hay dùng nhất của phần mềm này:

Hiển thị đối số của các hàm

Để xem đối số trong một công thức, hãy nhấn Ctrl- Shift- A. Ví dụ, nếu bạn gõ =RATE và nhấn Ctrl- Shift -A, bạn có thể nhìn thấy tất cả các đối số cho hàm này (ví dụ =RATE (nper, pmt, pv, fv, type, guess)).

Nếu bạn muốn biết chi tiết hơn, gõ theo: =RATE

Và nhấn Ctrl+A để hiển thị theo Function Wizard.

Tham chiếu các hàm

Để tham chiếu các hàm ứng dụng trong Excel, bạn hãy giữ phím Shift-F3, Excel sẽ đưa ra hộp thoại chứa tất cả các hàm ứng dụng và hướng dẫn các cú pháp cụ thể cho từng hàm khi bạn di chuyển con trỏ điểm sáng đến hàm muốn tham chiếu. Đây cũng là cách nhập công thức nhanh mà không cần gõ toàn bộ cú pháp.

Dùng F9 để tính tạm thời

Nếu bạn tạo một bản tính có chứa công thức quá dài nên không thể biết ngay kết quả, bạn có thể kéo con trỏ để chọn một phần của công thức trong thanh công thức, và ấn phím F9. Lập tức, kết quả của một công thức con trong dãy công thức của bạn sẽ hiện trên màn hình. Quan trọng hơn, là bạn không được ấn Enter, một phần của công thức đó sẽ bị mất, nên để chắc chắn bạn phải ấn phím ESC. Tuy nhiên nếu bạn nhỡ ấn Enter, thì hãy thử ấn tổ hợp phím Ctrl- Z để phục hồi lại các thay đổi.

Liên kết text box tới dữ liệu trong ô

Bạn có thể liên kết một text box tới dữ liệu trong một ô của bản tính bằng cách tạo ra một text box và liên kết công thức trả lại kết quả của ô đó tới text box.

1. Nhắp vào biểu tượng tạo một text box trên thanh công cụ Drawing. Nhắp vào bảng tính và kéo con trỏ để tạo một text box.

2. Đưa con trỏ tới thanh công thức, gõ công thức đã cho kết quả tới ô cần liên kết vào text box. (Ví du: trong ô A1 bạn có số liệu là 2. Trên thanh công thức, ban gõ =A1). Và ấn Enter.

3. Text hay số liệu bạn gõ trong ô đã liên kết (ví dụ A1) sẽ xuất hiện trong text box. Trong ví dụ trên thì text box sẽ có giá trị ở trong là 2.

Bạn có thể di chuyển text box tới một vài bản tính khác trong tập bảng tính nếu bạn muốn.

Liên kết một hình ảnh tới một dãy ô

Bạn có thể copy một dãy ô và dán nhanh chúng như một hình ảnh trong một bản tính. Đây cũng là một cách tinh xảo để dễ dàng nhìn thấy ô nào đó tại một vài nơi trong bảng tính của bạn. Bạn có thể sử dụng phương pháp này để in các ô trong một trang. Khi các ô liên kết thay đổi thì các định dạng này cũng được áp dụng cho các ô được liên kết. Để tạo một hình ảnh được liên kết, bạn theo các bước:

1. Chọn các ô có chứa dữ liệu gốc.

2. Nhắp vào Copy trên menu Edit.

3. Chọn ô mà bạn muốn dán hình ảnh vừa chọn xuất hiện.

4. Trong khi giữ phím Shift, nhắp vào Paste Picture Link trên menu Edit. Kết quả sẽ cho nhanh chóng.

Sử dụng Advanced Filter

Nếu bạn tạo một danh sách Shift trong Microsoft Excel và muốn chọn tại dữ liệu đó và copy chúng tới bảng tính khác, hãy sử dụng lênh Advanced Filter. Để bắt đầu sử dụng lệnh này, nhắp vào Filter trong menu Dat, nhắp vào Advanced Filter và làm theo các chỉ dẫn.

Sử dụng hàm Sum + If để tính tổng dữ liệu Advanced Filter

Giả sử bạn tạo một danh sách dữ liệu trong ô từ A1 đến A10 và muốn tính tổng tất cả các giá trị lớn hơn 50 và nhỏ hơn 200. Để làm được việc này, sử dụng theo dòng công thức dưới đây:

=SUM( IF( A1:A10 >=50, IF( A1: A10 <=200, A1:A10,0),0))

Để chắc chắn bạn nhập công thức như là một dãy, bạn hãy ấn Ctrl- Shift- Enter. Sau đó bạn sẽ nhìn thấy dấu ngoặc {} trong công thức. Nhưng không được ấn Enter khi đang gõ công thức.

Sử dụng hàm Sum + If để đếm dữ liệu

Bạn đã có một danh sách dữ liệu trong các ô A1: A10, và muốn đếm tất cả các giá trị lớn hơn 50 và nhỏ hơn 200. Bạn sử dụng công thức sau:

=SUM( IF( A1:A10 >=50, IF( A1: A10 <=200, 1,0),0))

Điền nhanh dữ liệu bằng các ô giống nhau

Bằng cách nhắp đúp chuột vào góc phải dưới của một ô để làm xuất hiện con trỏ hình dấu cộng sẽ tạo ra một chuỗi dữ liệu giống hệt ô gốc trong các ô tiếp theo của cột. Ví dụ, nếu bạn gõ dữ liệu trong các ô A1: A20, gõ một công thức hay text vào trong ô B1. Nhắp hai lần chuột vào góc dưới của ô B1. Microsoft Excel sẽ điền dữ liệu xuống phía dưới cột từ ô B1 tới ô B20.

Sắp xếp một danh sách đẵ được lọc

Để sắp xếp một danh sách đã được lọc, chọn Data\ Sort, và chọn cột thích hợp từ hộp điều khiển Sort by. Đặc biệt bạn cần lưu ý là sắp xếp theo thứ tự tăng dần (Ascending) và giảm dần (Descending) và nhắp vào OK.

Lấy các bộ lọc khi công việc đã hoàn thành

Nếu bạn sử dụng AutoFilter để lọc các bản ghi, bạn đã kết thúc việc hiển thị các record đó, nhưng sau đó bạn lại muốn xem lại tất cả các bản ghi của bạn một lần nữa. Để nhận được các bản ghi đó, đơn giản bạn chọn All từ danh sách thả xuống của bộ lọc hiện tại. Nếu bạn muốn tắt chức năng AutoFilter, chọn Data\ Filter và xoá chọn trong AutoFilter.

Làm vừa dữ liệu trong một trang

Excel đã rất “cố gắng” để đưa thật nhiều dữ liệu cho vừa một trang, nhưng bạn có thể giảm bớt hay làm tăng thêm cho các dữ liệu bảng tính của bạn bằng cách thay đổi lựa chọn Adjust To % Normal Size. Hay bạn có thể sử dụng lựa chọn Fit To Pages để nén dữ liệu cho đầy số trang riêng biệt. Đơn giản, bạn chọn File\ Page Setup và thử nghiệm với hai lựa chọn đó bằng cách thay đổi các thiết đặt của chúng. Cuối cùng, nhắp vào nút Print Preview để xem kết quả.

Hiển thị các ô hay dùng

Để tìm ra bất cứ ô nào mà bạn hay dùng, chọn Auditing từ menu Tools và chọn Show Auditing Toolbar. Nhắp vào một ô cùng với một công thức, khi đó chọn Trace Precedents (nút đầu tiên trên thanh công cụ Auditing), và đưa mũi tên tới các ô mà bạn đã sử dụng để tính toán các giá trị của riêng ô đó, lúc này hình mũi tên màu xanh sẽ xuất hiện có liên kết từ các ô dữ liệu tới ô kết quả. Để xoá các mũi tên, nhắp vào nút Remove All Arrows.

Tìm nhanh các ô có chứa công thức

Để tìm ra nơi các ô chứa công thức một cách nhanh chóng trong bảng tính, chọn Go To từ menu Edit. Trong hộp thoại xuất hiện, chọn Special\ Formulas, và nhắp vào OK. Khi đó, mỗi ô có chứa một công thức sẽ được lựa chọn.

Đánh dấu vào Formulas trong hộp thoại Go To để chọn ô có công thức.

Bổ sung Shift nền web vào bảng tính

Để bổ sung dữ liệu “sống” từ các bảng tính nền web tới bảng tính hiện tại của bạn: mở bảng tính Web, gõ URL vào trong hộp thoại File Open sau đó chọn và copy các ô bạn muốn. Trong bảng tính của ban, chọn Paste Special từ menu Edit và nhắp vào nút Paste Link.

Sử dụng ô tham chiếu và nhãn text trong các công thức

Để sử dụng các tham chiếu ô cùng với nhăn text trong một công thức, bạn chỉ việc gõ một ký hiệu (& ở giữa tham chiếu và text. Ví dụ, để hiển thị dòng dữ liệu là “25 Departments”, gõ (=A1 & “Departments”), trong đó A1 chứa số 25.

Làm thế nào để ấn định một macro tới một nút ?

Bạn muốn chạy macro hay hàm chỉ bằng một thao tác nhắp vào một nút? Bằng cách gán một hàm hay một macro tới một nút tuỳ biến bạn có thể thực hiện rất nhanh chóng mà không phải chọn Tools\Macro. Để ấn định một macro tới một nút, chọn View\ Toolbars\ Customize. Nhắp vào tab Commands và chọn Macros trong điều khiển Categories. K𠄢ustom Button trong Commands tới một thanh công cụ. Khi bạn đã bổ sung xong nút macro, nhắp vào nút có biểu tượng hình mặt cười màu vàng và nhắp vào nút Modify Selection trong hộp thoại Customize. Chọn Assign Macro từ menu shortcut mới xuất hiện. Cuối cùng, để đồng nhất macro bạn muốn tới gắn vào nút macro, nhắp vào OK, và nhắp vào Close.

Hiển thị công thức một cách an toàn

Bạn nhớ phải luôn luôn ghi bảng tính trước khi chuyển tới công thức hiển thị bằng cách ấn Ctrl – ~. Khi bạn quay lại bảng tính sau khi hiển thị các công thức, bạn có thể tìm thấy một vài định dạng khác nhau. Ví dụ, Excel có thể đã thay đổi độ rộng cột cùng một vài cột khác của bạn. Nếu điều này xảy ra, đơn giản mở lại bảng tính để quay lại định dạng đã mất. Phương pháp khác là chuyển bảng tính theo cách ở trên và tắt bằng cách vào menu Tools\Options chọn Views và đánh dấu chọn vào ô Formulas. Nhắp và OK để kết thúc.

Sắp xếp các ký tự in hoa và in thường

Excel không quan tâm đến trường hợp các ký tự chữ cái khi sắp xếp, trừ khi bạn thông báo tới nó. Nếu bạn muốn phân biệt giữa chữ in hoa và in thường trong quá trình sắp xếp, chọn dữ liệu bạn muốn sắp xếp, chọn Data\Sort. Nhắp vào Options trong hộp thoại Sort và chọn lựa chọn Case Sensitive. Nhắp vào OK hai lần. Bạn sẽ phải nhớ để chọn lựa chọn này mỗi lần vì Excel sẽ không giữ lại thiết đặt này.

Chuyển đổi các nhăn tới các số

Text dạng số là một kiểu dữ liệu hợp lệ. Ví dụ một số phone không hoàn toàn là một số. Khi lưu trữ kiểu dữ liệu này, bạn có thể thêm vào dữ liệu nhập vào bằng ký tự (‘). Tuy nhiên, thỉnh thoảng các giá trị số được nhập vào được nhập như là text số và điều này có thể xảy ra rắc rối. May thay, có thể dễ dàng chuyển đổi text số tới dạng số. Bạn theo các bước sau: chọn các ô dữ liệu bạn muốn chuyển đổi. Chọn Data\ Text To Column. Nhắp vào Next hai lần. Chọn General format và nhắp vào Finish. Excel sẽ chuyển đổi text số thành dữ liệu số.

Tập hợp các mô hình phân tích tài chính trong Excel 06/08/2009

Posted by anhcaxomlieu in Excel, Kinh Tế.
1 comment so far

Tất cả mô hình đều  miễn phí và có nguồn gốc từ địa chỉ này .

http://taichinh24h.com/images/product/1242486909_financial_services.jpg

1. Top Five Capital Budgeting Analysis (xls) – Basic program for doing capital budgeting analysis with inclusion of opportunity costs, working capital requirements, etc. – Adamodar Damodaran

2. Rating Calculation (xls) – Estimates a rating and cost of debt based on the coverage of debt by an organization – Adamodar Damodaran

3. LBO Valuation (xls) – Analyzes the value of equity in a leverage buyout (LBO) – Adamodar Damodaran

4. Synergy (xls) – Estimates the value of synergy in a merger and acquisition – Adamodar Damodaran

5. Valuation Models (xls) – Rough calculation for choosing the correct valuation model – Adamodar Damodaran

6. Risk Premium (xls) – Calculates the implied risk premium in a market. (uses macro’s) – Adamodar Damodaran

7. FCFE Valuation 1 (xls) – Free Cash Flow to Equity (FCFE) Valuation Model for organizations with stable growth rates – Adamodar Damodaran

8. FCFE Valuation 2 (xls) – Free Cash Flow to Equity (FCFE) Valuation Model for organizations with two periods of growth, high growth initially and then stable growth – Adamodar Damodaran

9. FCFE Valuation 3 (xls) – Free Cash Flow to Equity (FCFE) Valuation Model for organizations with three stages of growth, high growth initially, decline in growth, and then stable growth – Adamodar Damodaran

10. FCFF Valuation 1 (xls) – Free Cash Flow to Firm (FCFF) Valuation Model for organizations with stable growth rates – Adamodar Damodaran

11. FCFF Valuation 2 (xls) – Free Cash Flow to Firm (FCFF) Valuation Model for organizations with two periods of growth, high growth initially and then stable growth – Adamodar Damodaran

12. Time Value (xls) – Introduction to time value concepts, such as present value, internal rate of return, etc.

13. Lease or Buy a Car (xls) – Basic spreadsheet for deciding to buy or lease a car.

14. Top Five NPV & IRR (xls) – Explains Internal Rate of Return, compares projects, etc.

15. Real Rates (xls) – Demonstrates inflation and real rates of return.

16. Template (xls) – Template spreadsheet for project evaluation & capital budgeting.

17. Top Five Free Cash Flow (xls) – Cash flow worksheets – subsidized and unsubsidized.

18. Capital Structure (xls) – Spreadsheet for calculating optimal capital structures using different percents of debt.

19. WACC (xls) – Calculation of Weighted Average Cost of Capital using beta’s for equity.

20. Statements (xls) – Generate a set of financial statements using two input sheets – operational data and financial data.

21. Bond Valuation (zip) – Calculates the value or price of a 25 year bond with semi-annual interest payments.

22. Buyout (zip) – Analyzes the effects of combining two companies.

23. Cash Flow Valuation (zip) – Walks through a valuation of cash flows under three models- capital cash flows, equity cash flows, and free cash flows.

24. Financial Projections (zip) – Spreadsheet model for generating projected financials along with valuation based on WACC.

25. Leverage (zip) – Shows the effects on Net Income from using debt (leverage).

http://housing.usc.edu/images/financial/financial_facts.jpg

26. Ratio Calculator (zip) – Calculates a standard set of ratios based on input of financial data.

27. Stock Value (zip) – Calculates expected return on stock and value based on no growth, growth, and variable growth.

28. CFROI (xls) – Simplified Cash Flow Return on Investment Model.

29. Financial Charting (zip) – Add on tool for Excel 97, consists of 6 files.

30. Risk Analysis (exe) – Analysis and simulation add on for excel, self extracting exe file.

31. Black Scholes Option Pricing (zip) – Excel add on for the pricing of options.

32. Cash Flow Matrix – Basic cash flow model.

33. Business Financial Analysis Template for start-up businesses from Small Business Technology Center

34. Forex (zip) – Foreign market exchange simulation for Excel

35. Hamlin (zip) – Financial function add-on’s for Excel

36. Tanly (zip) – Suite of technical analysis models for Excel

37. Financial History Pivot Table – Microsoft Financials

38. Income Statement What If Analysis

39. Breakeven Analysis (zip) – Pricing and breakeven analysis for optimal pricing – Biz Pep.

40. SLG Ratio Master (exe) – Excel workbook for creating 25 key performance ratios.

41. DCF – Menu driven Excel program (must enable macros) for Discounted Cash Flow Analysis from the book Analysis for Financial Management by Robert C. Higgins – Analysis for Financial Management

42. History – Menu driven Excel program (must enable macros) for Historical Financial Statements from the book Analysis for Financial Management by Robert C. Higgins – Analysis for Financial Management

43. Proforma – Menu driven Excel program (must enable macros) for Pro-forma Financial Statements from the book Analysis for Financial Management by Robert C. Higgins – Analysis for Financial Management

44. Business Valuation Model (zip) – Set of tabbed worksheets for generating forecast / valuation outputs. Includes instruction sheet. Bizpep

45. LBO Model – Excel model for leveraged buy-outs

46. Comparable Companies – Excel valuation model comparing companies

47. Combination Model – Excel valuation model for combining companies

48. Top Five Balanced Scorecard – Set of templates for building a balanced scorecard.

49. Cash Model – Template for calculating projected financials from CFO Connection

50. Techniques of Financial Analysis – Workbook of 11 templates (breakeven, valuation, forecasting, etc.) from ModernSoft

51. Ratio Reminder (zip) – Simple worksheet of comparative financials and corresponding ratios from Agilicor

52. Risk Analysis IT – Template for assessing risk of Information Technology – Audit Net

53. Risk Analysis DW – Template for assessing risk of Data Warehousing – Audit Net

54. Top Five Excel Workbook 1-2 – Set of worksheets for evaluating financial performance and forecasting – Supplemental Material for Short Course 1 and 2 on this website.

55. Rule Maker Essentials – Excel Template for scoring a company by entering financial data – The Motley Fool

56. Rule Maker Ranker – Excel Template for scoring a company by entering comparable data – The Motley Fool

57. IPO Timeline – Excel program for Initial Public Offerings (must enable macros)

58. Assessment Templates – Set of templates for assessing an organization based on the Malcolm Baldrige Quality Model.

59. Cash Gap in Days – Spreadsheet for calculating number of days required for short-term financing.

60. Cash Flow Template – Simple cash flow model with explanations of each cash flow component – Arkansas Small Business Development Center.

61. Six Solver Workbook (zip) – Set of various spreadsheets for solving different business problems (inventory ordering, labor scheduling, working capital, etc.).

62. Free Cash Flow Valuation – Basic Spreadsheet Valuation Model

63. Finance Examples – Seven examples in Business Finance – Solver

64. Capital Budgeting Workbook – Several examples of capital budgeting analysis, including the use of Solver to select optimal projects.

65. Present Value Tables (rtf) – Set of present value tables written in rich text format, compatible with most word processors. Includes examples of how to use present value tables.

66. Investment Valuation Model (zip) – Valuation model of companies (must enable macros) – Excel Business Tools

67. Cash Flow Sensitivity (xlt) – Sensitivity analysis spreadsheet – Small Business Store

68. What If Analysis – Set of templates for sensitivity analysis using financial inputs.

69. Risk Return Optimization – Optimal project selection (must enable macro’s) – Metin Kilic

70. CI – Basics #1 – Basic spreadsheet illustrating competitive analysis – Business Tools Templates.

71. CI – Basics #2 – Basic spreadsheet illustrating competitive analysis – Business Tools Templates.

72. External Assessment – Assessment questions for organizational assessment (must enable macros).

73. Internal Assessment – Assessment questions for organizational assessment (must enable macros).

74. Formal Scorecard – Formal Balanced Scorecard Spreadsheet Model (3.65 MB / must enable macros) – Madison Area Quality Improvement Network.

75. Project Plan – Project Scheduling Template currently setup for a Balanced Scorecard Project.

76. Gantt Chart – Gantt chart for project management with work plan – Jim Chapman’s Web Site

77. E O Q Model – Simple Inventory Models for calculating Economic Order Quantity.


http://www.saga.vn/Saga_Gallery/ChauHa/bizworld/finance/financial.jpg

78. Inventory Simulation Control Model – Formal model for simulating inventory shortages, delivery times, costs, backorders, and optimal inventory levels – John McClain

79. Financial Projections Model – A comprehensive financial model for forecasting a complete set of financials with breakeven and valuation tabs developed by Frank Moyes and Stephen Lawrence at Leeds School of Business.

80. Option Trading Workbook – Educational toolkit for using Excel for Options – Option Trading Tips

81. Financial Model – A nice clean financial model driven by different calculators (such as Company, Market, Subscribers, etc.) developed by Bill Snow.

82. Forecasting Model – Step by step financial model for forecasting financials created by Sam Gui

83. Economic Evaluation – Step by step workbook for evaluating the economics of a system investment – Automated Concepts

Cấu trúc một chương trình c# 20/05/2009

Posted by anhcaxomlieu in .Net.
add a comment

Trước đây chúng ta đã được giới thiệu vài các phần của main ‘building blocks’ tạo bởi ngôn ngữ C# bao gồm khai báo biến, các kiểu dữ liệu và các câu lệnh của chương trình chúng ta cũng đã thấy đoạn mã ngắn về phương thức hàm main(). Cái chúng ta chưa thấy là làm thế nào để đặt tất cả chúng vào một khung của một chương trình hoàn chỉnh. Để trả lời chúng ta làm việc với các class.

I Lớp
- Như bạn đã biết , các class tạo nên một chương trình lớn trong C# , để biết rõ chúng ta sẽ tim hiểu thêm toàn bộ về lập trình hướng đối tượng trong C#. Tuy nhiên nó thực sự có khả năng viết một chương trình mà không sử dụng đến lớp, ở đây chúng ta chỉ cần một ít về lớp. Chúng ta sẽ được trang bị cú pháp cơ bản để gọi một lớp, nhưng chúng ta sẽ dành hướng đối tượng cho phần sau.
- Lớp là một khuôn mẫu thiết yếu mà chúng ta cần tạo ra đối tượng. Mỗi đối tượng chứa dữ liệu và các phương thức chế tác truy cập dữ liệu. Lớp định nghĩa cái mà dữ liệu và hàm của mỗi đối tượng riêng biệt (được gọi là thể hiện) của lớp có thể chứa. Ví dụ chúng ta có một lớp miêu tả một khách hàng nó được định nghĩa các trường như CustomerID, FirstName, LastName, và Address, cái mà chúng ta giữ thông tin cụ thể khách hàng. Nó cũng có thể được miêu tả bởi các hành động trong các trường dữ liệu.

1 Các lớp thành viên
- Dữ liệu và các hàm không có lớp đượp biết như là lớp thành viên
Thành phần dữ liệu (Data members) là những thành phần chứa dữ liệu cho lớp – trường (fields), Hằng số (constants), và sự kiện (events).
- Fields là các biến kết hợp với lớp. ví dụ, chúng ta định nghĩa một lớp PhoneCustomer với trường CustomerID, FirstName and LastName như sau:

class PhoneCustomer
{
   public int CustomerID;
   public string FirstName;
   public string LastName;
}

- Chúng ta có thể thừa kế một đối tượng PhoneCustomer, chúng ta có thể truy cập đến những trường của nó sử dụng Object.FieldName ví dụ:

PhoneCustomer Customer1 = new PhoneCustomer();
Customer1.FirstName = "Burton";

- Các hằng số có thể kết hợp với lớp như là biến. chúng ta khai báo một hằng số sử dụng từ khoá const. nếu nó khai báo public thì có thể truy cập ở ngoài lớp.


class PhoneCustomer
{
   public const int DayOfSendingBill = 1;
   public int CustomerID;
   public string FirstName;
   public string LastName;
}

Hàm thành phần (Function Members):
Bao gồm các thuộc tính và các phương thức. Chúng ta sử dụng các từ khoá sau để bổ nghĩa cho một phương thức :

II Cấu trúc (Structs )
- Chúng ta sẽ đề cập ngắn gọn là, ngoài các lớp nó cũng có thể để khai báo cho cấu trúc, cú pháp giống như cơ bản bạn biết ngoại trừ chúng ta dùng từ khoá struct thay cho class.
Ví dụ chúng ta khai báo một cấu trúc PhoneCustomer được viết như sau :

struct PhoneCustomer
{
   public const int DayOfSendingBill = 1;
   public int CustomerID;
   public string FirstName;
   public string LastName;
}

Yêu thương theo phương pháp Phật dạy 26/04/2009

Posted by anhcaxomlieu in Đời sống.
Tags: , ,
add a comment

Có một chàng trai rất đẹp trai, học giỏi, tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng, có nhiều bạn gái xinh đẹp. Chàng trai sống với mẹ, người mẹ biết trong các cô gái ngưỡng mộ con mình, có một cô gái không xinh nhất, cô không trắng, không cao lắm nhưng được chàng trai đặc biệt chú ý. Ngạc nhiên, người mẹ hỏi con trai: “Vì sao con lại thích cô gái ấy, cô ta đâu có gì nổi bật?”. “Cô ấy hiểu con” – chàng trai trả lời đơn giản.

Chàng trai học ngành công nghệ thông tin nhưng rất hay làm thơ. Mỗi lần chàng đọc thơ, cô gái nọ lắng nghe rất chăm chú và có những nhận xét sâu sắc, trong khi những cô gái xinh đẹp kia không để ý gì đến. Chàng trai đã chọn người yêu không vì vẻ đẹp bề ngoài, mà bởi sự lắng nghe và thấu hiểu.

“Đạo Phật cũng dạy như vậy, có hiểu mới có thương, tình yêu phải làm bằng sự  thấu hiểu ”, Thiền sư kết luận.

Muốn thương phải hiểu

Trong đạo Phật, từ bi gắn liền với trí tuệ. Không hiểu, không thể thương yêu sâu sắc. Không hiểu, không thể thương yêu đích thực. Hiểu chính là nền tảng của tình thương yêu.

Mỗi người có những nỗi niềm, những khổ đau, bức xúc riêng, nếu không hiểu, sẽ không thương mà giận hờn, trách móc. Không hiểu, tình thương của mình sẽ làm người khác ngột ngạt, khổ đau. Không hiểu, sẽ làm người mình thương đau khổ suốt đời.

Nhân danh tình thương, người ta làm khổ nhau. Chuyện đó vẫn thường xảy ra.

Được hiểu và được thương vốn là một nhu cầu muôn đời của con người. Nhiều người thường cảm thấy không ai hiểu mình. Họ “đói” thương, “đói” hiểu. Họ thơ thẩn, lang thang trong cuộc đời tìm người hiểu mình, thương mình. Gặp được người hiểu mình, thương mình là may mắn lớn của cuộc đời. Tình yêu nảy nở, lớn lên từ đó.

Vậy nên, “có hiểu mới có thương” là nguyên tắc chọn người yêu, chọn chồng/vợ theo quan điểm Phật giáo. Dù người ta có đẹp, có giàu đến đâu nhưng không hiểu mình sẽ làm mình khổ suốt đời. Hôn nhân có thể mở ra những con đường hoa hồng, có thể mở ra cánh cửa tù ngục. Chọn vợ, chọn chồng là một sự mạo hiểm lớn. Hãy cẩn thận, nếu không muốn chọn án tù chung thân cho cuộc đời mình.

Chọn người hiểu và thương mình – hãy nhớ – đó là nguyên tắc tìm người tri kỷ trong cuộc đời.

Bốn yếu tố của tình yêu: Từ bi hỉ xả

Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc. Tình yêu phải hội tụ đủ bốn yếu tố: từ, bi, hỉ, xả.

“Từ” là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương không phải là vấn đề hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Tình thương mà không đem đến hạnh phúc cho người yêu không phải là tình thương đích thực. Yêu mà làm khổ nhau không phải tình yêu. Có những người yêu nhau, ngày nào cũng khổ, đó là tình yêu hệ luỵ, chỉ mang tới sự khổ đau. Yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người ta hạnh phúc, mỗi ngày.

“Bi” là khả năng người ta lấy cái khổ ra khỏi mình. Mình đã khổ, người ta làm cho thêm khổ, đó không thể là tình yêu đích thực. Còn gì cho nhau nếu chỉ có khổ đau tuyệt vọng. Người yêu mình phải là người biết sẻ chia, biết xoa dịu, làm vơi bớt nỗi khổ của mình trong cuộc đời.

Như vậy, “từ bi” theo Phật dạy là khả năng đem lại hạnh phúc cho nhau. Yêu thương ai là phải làm cho người ta bớt khổ. Nếu không, chỉ là đam mê, say đắm nhất thời, không phải là tình yêu thương đích thực. “Từ bi” trong tình yêu không phải tự dưng mà có. Phải học, phải “tu tập”. Cần nhiều thời gian, để quan sát, để lắng nghe, để thấu hiểu những nỗi khổ niềm đau của người yêu, để giúp người ta vượt qua, tháo gỡ, bớt khổ đau, thêm hạnh phúc.

Hỉ” là niềm vui, tình yêu chân thật phải làm cho cả hai đều vui. Dấu ấn của tình yêu đích thực là niềm vui. Càng yêu, càng vui, niềm vui lớn, cả gia đình cùng hạnh phúc. Cuộc nhân duyên như thế là thành công.

“Xả” là không phân biệt, kì thị trong tình yêu. Mình yêu ai, hạnh phúc của người ta là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của mình. Không thể nói đây là vấn đề của em/ anh, em/ anh ráng chịu. Khi yêu, hai người không phải là hai thực thể riêng biệt nữa, hạnh phúc khổ đau không còn là vấn đề cá nhân. Tất cả những gì mình phải làm coi đó là vấn đề của hai người, chuyển hoá nỗi khổ đau, làm lớn thêm hạnh phúc.

Này người trẻ, bạn nghĩ về tình yêu của mình đi, có “từ bi hỉ xả không”? Bạn hãy can đảm tự hỏi mình rằng “Người yêu ta có hiểu niềm vui nỗi khổ của ta không? Có quan tâm đến an vui hàng ngày của ta không? Người ấy có nâng đỡ ta trên con đường sự nghiệp không?…” Và tự hỏi lại mình, liệu bạn có đang thành thực với tình yêu của mình?! Liệu tình yêu của bạn đã đủ “từ bi hỉ xả”?!

Tình dục và tình yêu

Phật giáo quan niệm như thế nào về tình dục trong tình yêu? Không phải ngẫu nhiên mà vị thiền sư tôi được hạnh ngộ bắt đầu vấn đề này bằng cách bàn về “thân tâm” trong truyền thống văn hoá Á Đông.

Trong truyền thống văn hoá ta, thân với tâm là “nhất như”, tức là nếu ta không tôn kính thân thể người yêu thì cũng không tôn kính được tâm hồn người ấy. Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Khi sự rẻ rúng xem thường xảy ra thì tình yêu đích thực không còn.

Thân thể ta cũng như tâm hồn ta. Có những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn, chúng ta chỉ chia sẻ với người tri kỉ. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống trọn đời, trọn kiếp.

Trong tình yêu lớn và cao quý, bất cứ lời nói và cử chỉ nào cũng phải biểu lộ sự tương kính. Người con trai phải tôn trọng người con gái mình yêu, cả thân thể lẫn tâm hồn. Người con gái biết giữ gìn, cũng là biết làm người yêu thêm tương kính, nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.

Bạn muốn thương yêu theo phương pháp Phật dạy chăng? Hãy hiểu, thương và tương kính người yêu của mình, cũng chính là đem hạnh phúc đến cho người và cho mình vậy!

Dấu hỏi cho tình yêu 26/04/2009

Posted by anhcaxomlieu in Đời sống.
Tags: , ,
add a comment

Có một chàng trai yêu cùng lúc hai người bạn gái nhưng lại không biết mình thật sự yêu ai hơn. Và chàng đi tìm câu trả lời. Chàng gặp một nhà hiền triết, kể cho ông tâm sự của mình. Sau khi nghe xong, nhà hiền triết bảo:

- Hãy hỏi lòng con câu hỏi này và trả lời thật lòng: “Khi con vui và hạnh phúc, con muốn chia sẻ cảm giác ấy với cô gái nào?”. Người nào con nghĩ đến sẽ là người con yêu. Tiếp đó con lại hỏi mình câu này và cũng trả lời thật lòng: “Khi gặp chuyện không vui hay phiền toái, ai sẽ là người con tìm đến để tâm sự hầu có thể vơi bớt phần nào gánh nặng trong lòng?”. Cô gái nào con nghĩ đến cũng là người con yêu.

Nếu với cả hai câu hỏi trên con đều chỉ chọn được cho mình một người, điều ấy là tuyệt vời nhất. Nhưng nếu mỗi câu hỏi đem lại cho con một lựa chọn khác, ta khuyên con nên chọn người mà con sẽ tâm sự những lúc buồn phiền.

Trong cuộc sống thường nhiều buồn phiền hơn là hạnh phúc. Có quá nhiều người để con gặp gỡ, để con cười vui hớn hở với họ nhưng không nhất thiết họ phải là người yêu của con. Đôi khi con vẫn có thể hưởng thụ niềm vui của mình mà không cần chia sẻ với ai. Song với phiền muộn, không có nhiều người sẵn lòng ngồi nghe con trải lòng và chia sẻ cùng con gánh nặng ấy.
Nếu một người nào đó chỉ nghĩ đến con khi cảm thấy vui vẻ hoặc chỉ có thể cùng con đùa vui, nhưng lại không sẵn lòng bên con khi con gặp những chuyện không may hoặc lại đi tâm sự những buồn phiền của họ với ai khác thay vì với con, người ấy không dành cho con tình yêu đủ lớn để vượt qua bão dông trong cuộc đời.

Người luôn bên con, làm dịu đi những đau khổ trong lòng con mới là người giữ vị trí quan trọng nhất trong tim con. Những khi gặp chuyện buồn, đó là lúc tất cả hiện ra chân thật nhất. Vậy, hãy nói cho ta biết ai là người đầu tiên hiện ra trong tâm trí con khi gặp buồn phiền?

Các giải pháp kỹ thuật cho việc xây dựng website bán hàng trên mạng 14/04/2009

Posted by anhcaxomlieu in Ecommerce.
Tags:
add a comment

Có nhiều loại nhu cầu khác nhau khi xây dựng một trang web có chức năng thương mại điện tử: từ một cá nhân muốn bán các sản phẩm lặt vặt, các cửa hàng nhỏ muốn tăng thêm 1 kênh bán hàng, cho tới các công ty muốn quảng cáo, pr, bán hàng rộng khắp trên mạng, … Tương ứng với các nhu cầu đó, có thể có nhiều giải pháp khác nhau. Trên thực tế cũng có không ít sản phẩm mã nguồn mở để xây dựng ứng dụng thương mại điện tử nhưng đâu là giải pháp thích hợp?

Bài viết này đánh giá vấn đề theo 2 chiều:

  1. Chiều nhu cầu: phân tích nhu cầu để tìm ra giải pháp phù hợp nhất.
  2. Chiều giải pháp: phân tích các giải pháp hiện có để tìm ra giải pháp tối ưu nhất đáp ứng được nhu cầu đặt ra.

Giải pháp tối ưu nhất chính là giao điểm của 2 chiều phân tích trên.

A/ Nhu cầu:

Có 2 mức độ cho website bán hàng trên mạng mà dựa vào đó có các giải pháp khác nhau.

  1. Chỉ bán hàng:

    Các trang này chỉ trưng bày sản phẩm, đưa ra các thông tin về sản phẩm kèm chức năng shopping cart để người mua có thể đặt hàng. Để xây dựng các trang kiểu này có thể dùng các ứng dụng e-commerce nổi tiếng như Prestashop, OSCommerce, Zencart, … Hầu hết các ứng dụng này đều có phần front-end có thể tùy biến rất nhiều, các module có thể di chuyển dễ dàng cho các mục đích khác nhau của các loại cửa hàng khác nhau. Phần back-end hầu hết đều hỗ trợ quản lí đơn hàng, quản lí kho, quản lí khách hàng rất tốt. Cá nhân tôi thích Prestashop nhất vì nó sẵn các chức năng hỗ trợ SEO rất nhiều. Tuy template cho Prestashop chưa nhiều nhưng tiềm năng rất lớn vì việc tùy biến giao diện cho Prestashop rất tiện lợi và đơn giản. OSCommerce cũng là một lựa chọn tốt vì đã ra đời và phát triển từ khá lâu, chức năng đầy đủ, template nhiều, tùy biến dễ dàng.

  2. Không chỉ bán hàng:

    Để bán được nhiều hàng hơn thì cần phải cung cấp cho khách hàng các dịch vụ trước và sau bán hàng tốt. Các dịch vụ này có thể là cung cấp các thông tin liên quan đến lĩnh vực kinh doanh (bán quần áo thì có thể cung cấp thông tin về thời trang chẳng hạn). Chính việc cung cấp các sản phẩm miễn phí này (thông tin, tư vấn, …) tạo quan hệ giữa cửa hàng với khách hàng và do đó, có thể lúc này họ chưa cần sản phẩm của bạn nhưng lúc cần họ sẽ tìm đến bạn trước tiên. Các dịch vụ sau bán hàng tạo niềm tin cho khách hàng vào sản phẩm của bạn hơn. Họ cần biết phải làm gì khi sản phẩm có vấn đề gì đó.
    Các trang kiểu này là có thể là dạng kết hợp giữa trang blog và trang bán hàng của công ty. Để xây dựng các trang kiểu này, các giải pháp ưa thích là drupal + module e-commerce, joomla + virtuemart, wordpress + plugin e-commerce.

Xây dựng website chỉ là bước đầu tiên. Để website được nhiều người biết đến, cần phải SEO thật tốt. Để giữ chân và tạo quan hệ lâu dài giữa khách hàng và website, thông tin cần phải được làm tươi mới và cập nhật thường xuyên.

B. Giải pháp:

Sau đây là đánh giá một số giải pháp trang web bán hàng:

WP Ecommerce

  • Plugin thực hiện chức năng thương mại điện tử của WordPress
  • Hữu ích với các website cần chức năng shopping cart đơn giản – where a website is centered around something else and needs a shopping cart attached
  • Hỗ trợ thanh toán bằng Paypal & Google Checkout
  • Có lựa chọn để người mua có thể mua hàng mà không cần đăng kí account
  • Mỗi sản phẩm có thể có nhiều ảnh trưng bày
  • Rất dễ sử dụng cũng như đào tạo nhân viên sử dụng

Prestashop

  • Giáo diện mặc định đẹp, dễ sử dụng
  • Giao diện dễ dàng tùy biến theo theme, module
  • Có chức năng import sản phẩm đưới dạng file csv
  • Có thể bán sản phẩm ảo (các file download, ebook, …)
  • Có chức năng đa ngôn ngữ
  • Có chức năng cài đặt hiển thị trang tiếp theo sau khi thêm sản phẩm vào giỏ hàng
  • Có khối thông tin cho các nhà cung cấp sản phẩm khác nhau
  • Có chức năng Newsletter
  • Có khối thông tin cho các nhà sản xuất khác nhau
  • Có chức năng sản phẩm bán chạy nhất
  • Hỗ trợ nhiều phương thức thanh toán: COD, Bankwire, Paypal, … khá phù hợp với hoàn cảnh tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
  • Có chức năng giới thiệu cho bạn bè
  • Có chức năng liệt kê sản phẩm đặc biệt trên trang chủ
  • Công cụ Google Sitemap
  • Chức năng báo có đơn hàng mới bằng SMS
  • Quản lí sản phẩm rất thuận tiện, có hỗ trợ công tác CRM của doanh nghiệp
  • Hỗ trợ tính toán giá vận chuyển
  • Hỗ trợ nhiều nhà sản xuất, nhiều cửa hàng
  • Có chức năng quản lí nhân viên và cấp quyền cho nhân viên
  • Có chức năng gửi email trực tiếp cho cửa hàng, khiếu nại, … (contact form)
  • Có chức năng quản lí quá trình chờ thanh toán/chuẩn bị hàng/vận chuyển và thông báo trực tiếp cho khách hàng/nhà phân phối qua email. Người quản trị có thể gửi email trực tiếp cho khách hàng sử dụng công cụ admin.

OScommerce

  • Cộng đồng lớn, nhiều module, theme
  • Quản lí tính năng sản phẩm hơi khó khăn so với các giải pháp khác
  • Giao diện ban đầu hơi đơn giản, không hấp dẫn
  • Hệ thống đánh giá, bình chọn sản phẩm rất tốt
  • Kích thước nhẹ
  • Hỗ trợ thanh toán paypal
  • Có chức năng quản lí banner

Magento

  • Chỉ có 3 theme Default, Modern, & Telescope
  • Kích thước chương trình và cơ sở dữ liệu lớn
  • Giao diện rất chuyên nghiệp
  • Có chức năng newsletter
  • Có chức năng bình chọn, thăm dò
  • Có chức năng tìm sản phẩm cùng loại
  • Có thể quản lí nhiều cửa hàng cùng lúc
  • Có wizard hỗ trợ import sản phẩm
  • Hỗ trợ phương thức thanh toán Paypal, Google Checkout
  • Giao diện mặc định đẹp nhất

Ubercart

  • Giành cho Drupal
  • Có thể dùng các theme sẵn có giành cho Drupal
  • Rất hữu ích cho các site bán các sản phẩm mềm
  • Cộng đồng lớn, nền drupal dễ dàng tùy biến

Zen Cart

  • Có rất nhiều theme sẵn có rất chuyên nghiệp để mua
  • Linkpoint API
  • Giao diện mặc định rất xấu
  • Cấu trúc template rất tệ, khó tùy biến
  • Có chức năng giá cho nhóm sản phẩm
  • Phần giành cho người quản trị rất khó sử dụng cũng như đào tạo nhân viên sử dụng
  • Khách hàng phải có account mới được mua hàng

Các mô hình free 14/04/2009

Posted by anhcaxomlieu in Ecommerce.
Tags: ,
add a comment

Blog RTOM có một series bài viết rất thú vị về các mô hình miễn phí với mô hình Freemium được coi là hiện đại nhất. Tất nhiên mỗi mô hình đều có điểm mạnh và yếu của mình. Loạt bài điểm qua 3 mô hình miễn phí phổ biến, đồng thời phân tích sâu hơn các ví dụ, thách thức đối với mô hình Freemium. Tuy nhiên, vì không đồng ý với vài điểm trong bố cục bài viết, đặt tên đề mục nên tôi xin trình bày lại chút xíu, toàn bộ ý tưởng và nội dung của bài viết không thay đổi.

A. Mở đầu

Mô hình Freemium là một mô hình kinh doanh hoạt động dựa trên việc cung cấp miễn phí các dịch vụ/sản phẩm với các chức năng cơ bản nhưng thu phí nếu người sử dụng muốn sử dụng các chức năng cao cấp hơn (premium) của dịch vụ/sản phẩm. Freemium là một từ ghép được tạo ra bởi : Free + Premium. Đây là một trong những mô hình kinh doanh khá nổi tiếng và cũng gây khá nhiều tranh luận đối với các công ty 2.0

Khái niệm Freemium được nhắc tới đầu tiên bởi Fred Wilson vào ngày 23/3/2006:

Give your service away for free, possibly ad supported but maybe not, acquire a lot of customers very efficiently through word of mouth, referral networks, organic search marketing, etc., then offer premium priced value added services or an enhanced version of your service to your customer base

Lúc đầu tiên, Wilson chưa biết gọi tên mô hình này là gì và yêu cầu mọi người đặt tên hộ mình (một ví dụ hay nữa của crowdsourcing). Với hơn 30 tên gọi khác nhau được gợi ý, “Freemium” của Lukin đã được Wilson và các độc giả trên blog của ông chọn lựa.

B. The Long tail và ba mô hình miễn phí

The Long Tail đã đưa ra 3 mô hình miễn phí, trong đó Freemium được coi là mô hình hiện đại nhất. Chúng ta sẽ điểm qua 3 mô hình khá thú vị này :

1. Razor and Blades

Mô hình đầu tiên là mô hình “Razors and Blades” đã xuất hiện từ những năm 1903 với dao cạo Gillette dùng một lần với giá cực rẻ. Sau đó, Rockefeller cũng đã cho đi tới 8 triệu chiếc đèn dầu hỏa ở Trung Quốc vì khi người ta có đèn dầu, chắc hẳn người ta sẽ mua dầu. Vụ này nổi tiếng tới nỗi tạo thành một câu slogan trong giới doanh nhân Mỹ “Oil for the lamp of China“. Gần đây nhất vào tháng 7/2007 thì Prince cũng đã cho không 2.8 đĩa CD của mình. Các đĩa CD này được đính kèm với tờ Daily Mail ngày chủ nhật. Daily Mail đã trả 36 cent cho mỗi CD và Prince thu về hơn 1M tiền bản quyền. Tuy vậy, cái đích mà Prince nhắm tới là con số 23.4M cho buổi biểu diễn live vào tháng 8 tại London (Daily Mail nhờ vụ này cũng tăng được tổng số phát hành lên 20%).

2. Media Business Model

Mô hình thứ 2 là mô hình khá phổ biến trong giới truyền thông hiện nay mà The Long Tail gọi là “Media Business Model“. Khách hàng sẽ được sử dụng miễn phí/giá rẻ một sản phẩm với điều kiện họ chấp nhận xem/nghe quảng cáo của bên thứ 3.

3. Freemium

Mô hình cuối cùng chính là mô hình Freemium trong đó hơn 90% khách hàng được sử dụng các dịch vụ (cơ bản) một cách miễn phí và chỉ có 10% khách hàng chọn lựa trả tiền để được quyền sử dụng phiên bản premium của dịch vụ.

C. David Armano và ba mô hình miễn phí

David Armano đã vẽ lại 3 mô hình “Free” của Chris Anderson. 3 mô hình này được phát triển theo thời gian, bao gồm từ “razors and blades” cho tới freemium.

D. To free or not to free

Dharmesh Shah trên Onstartups.com cũng đưa ra một vài sự so sánh giữa miễn phí và không miễn phí đối với việc định giá phần mềm cho các doanh nghiệp khởi sự như sau :

1. Miễn phí hoàn toàn

Nghe có vẻ không có lý lắm vì thực ra không có gì là miễn phí hoàn toàn cả. Cái lý ở đây là thay vì việc người sử dụng phải trả tiền thì một người khác sẽ trả tiền cho người sử dụng. Cách thứ nhất là Advertiser sẽ trả tiền và thay vào đó người sử dụng sẽ phải xem quảng cáo (giống với mô hình thứ 2 ở trên). Cách thứ 2 là chờ đợi future acquirer (người sẽ mua lại sản phẩm của bạn khi bạn đã nổi tiếng) trả tiền. Hãy cứ cho không tất cả mọi thứ cho tới khi ai đó trả tiền để mua lại sản phẩm và cộng đồng người sử dụng sản phẩm đó. Tuy nhiên, tôi cho rằng đây chỉ là một bước trung gian vì future acquirer rất có thể mua lại sản phẩm và cộng đồng của bạn để quảng cáo trên đó (và như vậy thì lại quay trở lại cách thứ nhất).

2. Miễn phí sử dụng và trả tiền cho các dịch vụ phụ trội

Đây là cách thức khá phổ biến đối với các công ty opensource khi họ cho sử dụng miễn phí sản phẩm của mình nhưng thu tiền đối với việc cài đặt, đào tạo hay customized sản phẩm.

3. Freemium

Ở đây, Shah cho rằng phí để duy trì sản phẩm/dịch vụ miễn phí cho phần lớn người sử dụng với hy vọng những người sử dụng này sẽ chuyển từ việc sử dụng sản phẩm/dịch vụ miễn phí sang sản phẩm/dịch vụ có phí (premium) thực ra là chi phí marketing. Thay vì có người thứ 3, ở đây chính người sử dụng sản phẩm/dịch vụ có phí sẽ trả tiền cho người sử dụng sản phẩm/dịch vụ miễn phí. Shah cũng cho rằng cần phải xem xét lại Freemium là mô hình marketing hay là mô hình kinh doanh.

4. Freedom to pay

Có phải lúc nào người sử dụng cũng thích miễn phí hay không? Tôi rất thích nhận xét của Miikka trong quyển Chiến lược ChoCho đi là một hành động ích kỷ” bởi chẳng ai cho đi lại không muốn nhận lại điều gì đó. Bản thân người nhận cũng biết rõ điều này và đôi khi người nhận sẽ lựa chọn việc không nhận đồ miễn phí để tránh phải cho trở lại một điều gì đó mà người cho muốn.

E. Một vài mô hình freemium nổi tiếng

Các ví dụ cho mô hình Freemium nổi tiếng được Wilson thống kê có thể kể tới dưới đây như Skype, Flickr hay Webroot :

1. Skype

Cho phép sử dụng dịch vụ thoại miễn phí đối với những người sử dụng application (với chất lượng khá tốt) và thu tiền đối với các dịch vụ Premium (Voice over Internet)

2. Flickr

Cho phép upload ảnh miễn phí với số lượng tối đa là 200 tấm ảnh và dung lượng không quá 100MB/tháng. Nếu nâng cấp lên Pro, người sử dụng có thể upload ảnh không giới hạn về bandwidth và storage size.

3. Newsgator

Miễn phí cho các ứng dụng đọc RSS trên web nhưng nếu bạn muốn đồng bộ với outlook hay mobile phone thì phải trả thêm tiền.

4. Webroot

Và các ứng dụng diệt virus khác trên mạng cho phép quét virus miễn phí nhưng nếu bạn muốn diệt, bạn phải trả tiền. BKAV cho phép sử dụng miễn phí phiên bản BKAV Home nhưng yêu cầu phải trả tiền nếu muốn được Live Update.

Shah cũng đưa ra một ví dụ khá sát cho mô hình Freedom to Pay của mình. Google cung cấp API miến phí để tất cả mọi người đều có thể sử dụng được. Tuy vậy, Google giới hạn số lần sử dụng trong một ngày và người sử dụng có muốn trả tiền để được sử dụng thêm cũng không được phép trả tiền (vì Google không nhận!). Điều này có lẽ do Google muốn thử tải cho mô hình của mình và chưa sẵn sàng để chuyển sang kinh doanh.

F. Thách thức đối với mô hình freemium

Một trong những thách thức đầu tiên mà ai cũng sẽ phải đối mặt khi muốn thu tiền của người khác là bạn phải chỉ ra được lý do tại sao người mua phải trả tiền. Nếu bạn không chỉ ra được lý do, tôi cá rằng bạn chẳng bao giờ thu được tiền của ai cả .

Một ví dụ cho sự thất bại trong việc chỉ ra lý do tại sao người mua phải trả tiền là của Calgoo. Calgoo là một công cụ lập lịch cho phép bạn đồng bộ dữ liệu về lịch làm việc của mình giữa các platform khác nhau. Với dự định thu 30 USD/năm cho việc đồng bộ này, họ đã thất bại vì không đưa ra được lý do thực sự thu hút người mua trả tiền và cuối cùng đã phải công bố quay trở lại miễn phí hoàn toàn sản phẩm của mình (tất nhiên là sẽ phải dùng nguồn thu từ quảng cáo để bù lại).

Thách thức thứ hai : một khi đã cho đi, đừng bao giờ thay đổi ý định. Bạn đang cho đi miễn phí mọi thứ và tự dưng sau một khoảng thời gian quay ngoắt lại và bảo khách hàng của mình : “Giờ đã đến lúc chúng tôi thu tiền anh rồi đây!!!”. Đương nhiên khách hàng cũng sẽ quay ngoắt lại bảo “Vâng, chúng tôi biết rằng anh cũng chẳng tốt đẹp gì cho cam!!!”. Rồi sau đó khách hàng sẽ chuyển sang dùng sản phẩm và dịch vụ của một nhà cung cấp khác minh bạch hơn bạn. Vì vậy, hãy minh bạch ngay từ đầu về những gì bạn có thể cho đi và những gì bạn muốn thu tiền.

Tuy vậy ở đây Mashable lại đưa ra một câu hỏi khá hay “OK, cứ giả sử bạn đã minh bạch về các phiên bản miễn phí và phiên bản Premium nhưng rồi nếu như đội ngũ R&D của bạn tạo ra được một chức năng mới thật sự có ích, bạn sẽ đưa nó vào phiên bản miễn phí hay phiên bản premium?”. Đương nhiên rằng để quảng bá cho chức năng mới này, bạn sẽ đưa nó vào phiên bản miễn phí. Điều này cũng rất tốt đối với các chức năng mới bởi vì sẽ có nhiều người sử dụng chức năng này và tự nhiên bạn có được nhiều tester miễn phí cũng như các ý kiến quý báu từ họ. Nhưng khoan đã, hãy chú ý tới những người trả tiền. Họ sẽ thắc mắc “Cái quỷ quái gì đây??? Tôi TRẢ TIỀN mà tại sao lại cũng chỉ bằng những người KHÔNG TRẢ TIỀN?”. Tôi nghĩ rằng câu trả lời tốt nhất cho chuyện này là chức năng mới cũng có hai phiên bản, một miễn phí và một thu tiền. Cơ mà, liệu có phải chức năng nào cũng có thể làm như vậy được không?

Shah đưa ra nhận định của mình về những thách thức khi áp dụng mô hình Freemium như sau :

1.    Quyết định chức năng nào sẽ có trong phiên bản miễn phí và chức năng nào không có là cả một nghệ thuật. Bạn cần phải đưa vừa đủ các chức năng trong phiên bản miễn phí để tạo ra traffic và thói quen sử dụng nhưng không quá nhiều. Nếu như phiên bản Premium không khác bao nhiêu so với phiên bản miễn phí, vậy lý do để người mua phải trả tiền là gì ?

2.    Cho dù giá tiền của phần cứng, băng thông và cơ sở hạ tầng ngày càng rẻ thì nó cũng không đồng nghĩa với việc các thành phần này là miễn phí. Nếu bạn tính toán không tốt, bạn sẽ không thu được đủ tiền từ vài trăm người để trả phí duy trì cho vài chục nghìn người sử dụng miễn phí

3.    Ai sẽ trả tiền cho việc hỗ trợ khách hàng? Trên nguyên tắc, bạn có thể nói rằng anh/chị đó đã sử dụng miễn phí rồi mà lại còn đòi hỏi hỗ trợ thì thật là quá đáng. Nhưng nếu không hỗ trợ, liệu bạn có giữ chân được khách hàng (ngay kể cả khi họ sử dụng dịch vụ miễn phí) hay không?

4.    Định giá cho phiên bản Premium. Bạn có thể định giá cao cho sản phẩm của bạn nếu như không tồn tại phiên bản miễn phí, nhưng nếu đã tồn tại phiên bản này, bạn không thể định giá phiên bản Premium quá 50 USD/tháng. (ở đây tôi cho rằng cần phải phân tích rõ hơn rằng bạn không thể định giá cho từng chức năng một trong phiên bản Premium quá 50 USD/tháng bởi vì bạn hoàn toàn có thể versioning phiên bản Premium ra thành nhiều phiên bản khác nhau phục vụ cho các nhu cầu khác nhau).

5.    Có một chút khó khăn khi nhân rộng mô hình định giá đối với các sản phẩm Premium. Nếu một công ty mua dịch vụ của bạn với 10 users, họ sẽ có xu hướng mua 9 users miễn phí + 1 users có phí (để sử dụng các chức năng mà user miễn phí không có). (Ở đây tôi cho rằng điều này không hẳn đúng với các dịch vụ dành cho cá nhân, ví dụ Flickr)

6.    Rủi ro cao và tỷ lệ giữa free/premium là khó đoán định. Ví dụ như nếu như dịch vụ Premium của bạn không đủ sức thu hút được người sử dụng, việc người sử dụng quay lại dịch vụ Free hoặc bỏ đi là điều dễ dàng nhận thấy.

Một trong những thách thức ngoạn mục cho mô hình Preemium đã được Andrew Parker đã chỉ ra trong blog của mình với tiêu đề “Pay to remove Ads?”. Hãy tưởng tượng với phiên bản miễn phí bạn sẽ phải xem quảng cáo và bạn sẽ trả tiền để gỡ quảng cáo đó. Câu chuyện có vẻ đơn giản với bạn những với những nhà quảng cáo thì không hề. Những nhà quảng cáo bỏ tiền ra để đưa quảng cáo của họ tới những độc giả cụ thể mà họ mong muốn (ví dụ theo độ tuổi, giới tính, trình độ học thức) nhưng những độc giả này lại trả tiền để mua tự do của mình. Điều đó dẫn tới việc môi trường quảng cáo bị “nghèo đi” và những nhà quảng cáo có thể sẽ không còn tìm được đối tượng mục tiêu phù hợp để quảng cáo nữa. Thế thì sao, không có quảng cáo thì người sử dụng lại càng vui chứ sao? Nhưng không có quảng cáo thì ai sẽ trả tiền cho người cung cấp dịch vụ miễn phí?

G. Kết

Đồng quan điểm với Shah (ở điểm số 4 và 5), Josh Kopelman đã đưa ra một nhận xét khá hay trong blog của mình với tiêu đề “The Penny Gap”.  Có thể nói ngắn gọn về nhận xét của Kopelman bằng việc trích 1 câu trong bài viết này “Đã có rất nhiều người đồng ý rằng tăng từ “không có phí” cho tới 1 USD/tháng khó hơn rất nhiều so với việc từ 1 USD/tháng tăng lên 2 USD/tháng” mặc dù khoảng cách đều chỉ là 1 USD. Rõ ràng, khoảng cách về tiền bạc là 1 USD nhưng khoảng cách về tinh thần thì khác hẳn (!)

Quá nhiều thách thức phải không? Mọi thứ đều có hai mặt và hãy sử dụng con dao một cách cẩn thận trước khi nó có thể quay lại làm đứt tay bạn (!).

Từ ngữ nào quan trọng nhất trong quảng cáo? 14/04/2009

Posted by anhcaxomlieu in Ecommerce.
Tags: ,
add a comment

Nếu bạn buộc phải đoán một từ được xem là quan trọng nhất trong quảng cáo, bạn sẽ đoán nó là gì? “Miễn phí”, “đặc biệt”, “giảm giá”, “bán hàng”, “mới”, “nâng cấp”, “lớn hơn”, hay “tốt hơn”,…? Rất nhiều từ ngữ trong quảng cáo ngày nay đánh mất ý nghĩa của nó, bị sử dụng sai cách hay bị lạm dụng quá mức. Đó hiển nhiên không phải là lựa chọn thích hợp. Các thuật ngữ kiểu như “sang trọng”,  “hàng đầu thế giới “trở nên vô nghĩa khi được áp dụng vào mọi thứ trong những khách sạn tới các nhà hàng, quán ăn nhanh. Chúng ta thậm chí không thể trông cậy vào các từ “nhẹ nhàng”, “ăn kiêng” hay “ít béo” để thực tế miêu tả những gì mà một nhà hàng phục vụ. Những gì các nhà quảng cáo ngày nay đang làm đó là tạo ra một thị trường quảng cáo quá cường điệu và phóng đại – nơi mà người tiêu dùng dần mất lòng tin vào lời miêu tả về các sản phẩm/dịch vụ được cung cấp trên thị trường.

Song điều đáng mừng là Internet và các trang web với sự nhấn mạnh tới yếu tố nội dung đã mang lại cho các nhà quảng cáo một cơ hội bù đắp và đưa ra nhiều thông tin ý nghĩa hơn tới các khách hàng. Tương đồng với ý kiến của nhiều chuyên gia, Jerry Bader, chủ tịch MRPwebmedia, một công ty thiết kế web tại Mỹ, cho rằng đó là một từ ngữ khá đơn giản và vô thưởng vô phạt: như. Như là từ ngữ không mang tính miêu tả rõ nét nhưng nó sở hữu một sức mạnh nhận thức hoá mà các công ty cần tới để xây dựng đặc tính kinh doanh, để định hình tính cách nhãn hiệu và để định vị sản phẩm/dịch vụ trong tâm trí khách hàng.

Câu nói “Một trang web không có video sẽ như…” sử dụng sức mạnh của phép ẩn dụ để diễn giải làm thế nào từ như có thể kết tinh một ý tưởng trong tâm trí khách hàng.

Phép ẩn dụ giúp giải thích các khái niệm phức tạp và các quy trình khó để hiểu bằng việc so sánh chúng với những kiến thức phổ biến, thân quen hàng ngày. Chúng ta sử dụng phép ẩn dụ hàng ngày, thậm chí đôi khi không nhận ra chúng ta đang sử dụng nó. Tôi phi tới văn phòng. Tôi làm việc như trâu. Và có một rừng công việc ngoài kia.

Phép ẩn dụ là hết sức thiết yếu với cách thức chúng ta giao tiếp với nhau và với thành công của các hoạt động quảng cáo và giao tiếp tiếp thị.

Phép ẩn dụ có thể được mở rộng thành phép loại suy, phép so sánh. Và các phép loại suy, phép so sánh chuyển thành các câu chuyện. Để rồi câu chuyện trở thành chiến dịch. Và một chiến dịch được phát triển theo phương thức này sẽ có nhiều cơ hội lớn nhằm đưa ra được các nội dung có ý nghĩa tới khách hàng.

Không có cách nào tốt hơn để chiến thắng sự chống đối của khách hàng bằng việc đặt sự chống đối đó vào một viễn cảnh với các câu chuyện bóng gió thích hợp.

Một thực tế dễ thấy nhất đó là ngày càng có nhiều lời phàn nàn, kêu ca từ không ít người sử dụng web thiếu kiên nhẫn về việc họ phải mất quá nhiều thời gian để chờ đợi những thứ trên trang web. Mỗi lần Jerry Bader nghe thấy điều này từ ai đó, ông là nhớ tới câu chuyện về lần giới thiệu mới đây của sản phẩm máy ảnh nhãn hiệu Polaroid Land.

Trước khi các cửa hàng ảnh lấy ngay sử dụng công nghệ hiện đại ra đời, mọi người phải chờ đợi hàng tuần để có được các bức hình của họ tại các cửa hàng ảnh địa phương. Và thời điểm mà chiếc máy ảnh Polaroid được giới thiệu với tính năng cung cấp ảnh ngay trong 60 giây, mọi người hết sức ngạc nhiên; kỷ nguyên của sự hài lòng trong tức khắc đã được mở ra.

Câu chuyện của Jerry cũng bắt đầu từ đây. Một nhà các nhà phiêu lưu mạo hiểm quyết định đi vào sâu các khu rừng nhiệt đới ở Brazil để tìm hiểu về những người thổ dân bản xứ. Khi các nhà thám hiểm tới thăm một bộ lạc mà dường như chưa bao giờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, họ nhanh chóng kết thân với các thổ dân và sử dụng máy ảnh Polaroid để chụp hình. Những thổ dân rất thích thú với các bức hình họ chưa từng bao giờ được thấy trước đây, nhưng họ có một lời phàn nàn: Tại sao phải mất nhiều thời gian như vậy để có được bức hình?.

Vấn đề không phải ở công nghệ, vấn đề chính ở nhận thức. Cũng như những người thổ dân thấy rằng 60 giây là quá lâu để cho ra một bức ảnh thì nhiều người sử dụng web cũng nhận thức rằng internet hiện quá chậm trong khi thực tế rằng đó là một bước tiến nhảy vọt về công nghệ nơi mà bất cứ ai với một chiếc máy tính và có kế nối internet đều có thể tiếp cận thông tin từ khắp nơi trên thế giới trong một vài giây, hay tệ nhất là một hai phút.

Giải pháp cho vấn đề đó là những giao tiếp tốt hơn để đảm bảo bản thân công ty và thông điệp của công ty được hiểu rõ tức thì. Những ai thực sự quan tâm tới những gì công ty đưa ra sẽ chờ đợi trang web hay video để đọc và tải về. Những gì khiến họ thất vọng đó là khi họ chờ đợi và thay vì có được các thông điệp ý nghĩa, họ lại nhận được một mớ các thông tin vô nghĩa, không mấy liên quan, mang tính tự khen hay hoàn toàn không thể hiểu được.

Một thông điệp quảng cáo cho dù trên internet hay trên báo chí truyền thống đều có thể đánh mất khách hàng nếu nó khó hiểu, lộn xộn, quá phức tạp hay mang tính triết lý suông.

Các công ty cần đảm bảo những thông điệp dễ hiểu, gắn kết và đáng nhớ. Và một trong những cách thức tốt nhất để truyền tải thông điệp đó là so sánh nó với cái gì đó mà người nghe có thể liên quan tới. Chẳng hạn như: Nó như việc dạy những đưa con của bạn một bài học cuộc sống bằng việc đọc cho chúng nghe một các câu chuyện ngụ ngôn Aesop.

Một vài người có sở trường diễn đạt mọi thứ theo cách gây chú ý tức khắc cho người nghe, và quan trọng hơn là nó nằm sâu trong trí nhớ của mọi người. Đối với những ai thường xuyên phải giao tiếp, tiếp thị, quảng cáo hay tiến hành kinh doanh, đó là một kỹ năng cần thiết được học hỏi qua nhiều năm.

Việc tạo dựng một thông điệp quảng cáo mà mọi người sẽ xem, nhớ và làm theo lời kêu gọi đòi hỏi sự gắn kết cả về thời gian lẫn tiền bạc và các công ty sẽ muốn đảm bảo rằng nó truyền tải hiệu quả nhất thông điệp của họ. Thay vì sử dụng các phương thức truyền thống tập trung vào thông tin và đặc tính, hãy thử cái gì đó khác biệt. Hãy thử xây dựng một chiến lược dựa trên phép ẩn dụ qua đó đưa ra được đặc tính nhãn hiệu và các giá trị cảm xúc gia tăng của công ty.

Vậy phải bắt đầu từ đâu? Các công ty cần  giải thoát bản thân khỏi sự cứng nhắc và trọng tâm vào các yếu tố truyền thống. Nếu việc này xem ra là điều khó để thực hiện trong suy nghĩ của một người lớn, hãy bắt đầu với các bước đi của trẻ thơ.

Bất cứ chiến dịch tiếp thị nào – cho dù được thực hiện quan web video, email, quảng cáo tạp chí, quảng cáo banner, truyền hình hay truyền thanh,… – sẽ chỉ hiệu quả nếu nó tập trung vào duy nhất một thông điệp.

Tại trái tim của tất cả các quảng cáo đó là lời hứa bạn cam kết đưa ra cho các khách hàng. Không quan tâm tới việc bạn tiếp thị thông minh hay đáng nhớ như thế nào, nếu thất bại trong việc đưa ra lời hứa đó, mọi thứ chắc chắn sẽ không thể thành công.

Có một bài học từ các chính trị gia. Những ý kiến phát biểu trước đám đông của các chính trị gia là hết sức quan trọng. Các chính trị gia không thể giúp đỡ bản thân họ; họ hứa với người dân những gì người dân muốn nghe, và rồi sau đó họ thất bại trong việc thực hiện lời hứa của mình. Kết quả là mọi người mất lòng tin vào những gì các nhà chính trị nói.

Thất bại với việc đảm bảo các lời hứa rẻ nhất, tốt nhất, hay nhiều tính năng nhất không khác gì một chính trị gia hứa sẽ không có bất cứ khoản thuế mới nào cả. Rõ ràng những kiểu lời hứa như vậy sẽ là thảm hoạ tiếp thị.

Việc áp dụng phương pháp quan điểm này đòi hỏi một mức độ nhất định sự tự tin và hiểu rõ rằng công ty sẽ phải từ bỏ một cái gì đó để đón nhận một cái khác bù lại. Chẳng hạn nếu công ty đưa ra đặc tính của mình như là đồng hồ Timex giá rẻ và dễ kiếm, công ty đang từ bỏ những khách hàng tìm kiếm các đồng hồ hiệu Rolex đắt tiền và độc nhất.

Một trong những quảng cáo đáng nhớ nhất từng xuất hiện trên truyền hình đó là vào năm 1985 với quảng cáo giới thiệu máy tính Apple Macintosh. Thông điệp quảng cáo không đề cấp bất cứ điều gì liên quan tới máy tính nhưng nó vẫn tạo dựng được một đặc tính và hình ảnh nhãn hiệu rõ nét của nhãn hiệu Apple cho tới tận ngày hôm nay.

Nếu thông điệp tiếp thị của bạn thiếu kiểu sức mạnh và đặc tính như vậy, nếu quảng cáo của bạn bị lạc lối, hay lép vế so với các đối thủ cạnh tranh, hãy nhanh chóng tìm ra một phép ẩn dụ giúp tức thì nói với các khách hàng của bạn rằng bạn là ai và tại sao họ nên quan tâm tới bạn.

Titanic Việt Nam 05/04/2009

Posted by anhcaxomlieu in Giải trí.
add a comment

Chuyện kể rằng, ban đầu, đoàn làm phim Titanic định quay ở VN.

Đêm. Đại dương đen ngòm. Bầu trời đầy sao. Trên chòi cao, người hoa tiêu của tàu Titanic chăm chú nhìn về phía trước. Bỗng anh hốt hoảng:

- Có một núi băng phía trước tàu khoảng 10 km.

Tin đó lập tức được gửi tới phòng hoa tiêu trưởng. Ông này bận dự lễ cắt băng khánh thành câu lạc bộ bida trên tàu. Nhận được tin, ông lắc đầu:

- Phải mang ra phường xác nhận xem núi băng đó thuộc về ai thì tôi mới có hướng giải quyết.

Một bức điện cấp tốc được gửi về phường xin xác nhận ngay, nhưng cô văn thư giữ con dấu lại nghỉ vì nhà có đám giỗ, còn chủ tịch phường thì hiện đang đi nghỉ mát theo lời mời của Ban quản lý dự án giải phóng mặt bằng.

- Núi băng còn cách tàu 5 km – Hoa tiêu lại báo xuống.

Tin được chuyển ngay xuống thuyền phó. Ông ta vội vã triệu tập một cuộc hội thảo với chủ đề Băng trôi – Thực trạng và giải pháp. Giấy mời hội thảo đề 3hAM, nhưng 4hAM vẫn chưa đủ số đại biểu vì chưa rõ là có tiền ăn sáng hay không, đồng thời nhân viên cũng báo cáo lại là một số đại biểu đang mải chơi tú Strip nên không thèm nhận giấy mời. Cuối cùng thì buổi hội thảo cũng vẫn được tổ chức lúc 4.30AM sau khi Chủ tọa tuyên bố có tiệc đứng sau buổi họp. Các tham luận đều không đưa ra hướng cụ thể gì, chỉ nhấn mạnh là cần phối hợp giải quyết nhịp nhàng và đây là trách nhiệm của tất cả các ban ngành. Cuối buổi, Chủ tọa kết luận dõng dạc:

- Cuộc họp hôm nay chúng ta đã được nghe nhiều ý kiến phát biểu có giá trị cao về cả lý thuyết lẫn thực tế. Các ý kiến đã chỉ ra được tầm nguy hiểm của hiện tượng băng trôi và đưa ra một số giải pháp giải quyết. Các giải pháp tuy còn nhiều tính chất “trừu tượng” và đôi chỗ mâu thuẫn với nhau, nhưng thật khó để có thể kết luận ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai. Đây chính là tiền đề để chúng tôi sẽ tiếp tục tổ chức một buổi Hội thảo nữa vào ngày này năm sau. Xin cám ơn quý vị và mời quý vị dùng tiệc. (Clap clap)

- Băng còn cách tàu 100m – hoa tiêu hét lên.

Tin này đến tai thuyền trưởng. Ông vội vã ra lệnh:

- Lái tàu, lùi lại.

- Dạ báo cáo anh, em chưa học lái tàu đi lùi ạ.

- Thế sao bảo có bằng lái tàu thủy???

- Dạ, thú thiệt là bằng này em… “mua” ạ.

- Hả???… RẦM!!!

Sườn tàu va vào núi băng. Nước ào ào chảy vào các phòng.

Trên giường ngủ, diễn viên nam do DiCaprio thủ vai thức dậy trước tiên. Anh lay những người xung quanh:

- Dậy mau lên, nước ngập.

Mọi người ngái ngủ ngó xuống rồi càu nhàu:

- Mưa thì nước ngập, có chi đâu.

- Nhưng mà ngập đến đầu gối rồi!

- Bực quá, khu phố tôi ở mỗi khi mưa dù là mưa nhỏ mà đều ngập đến bụng cơ, thế này nhằm nhò gì – Rồi họ ngủ tiếp.

Hốt hoảng, DiCaprio rút điện thoại di động gọi cho diễn viên nữ Kate Winslet để báo tin. Trong máy vang lên một giọng ngọt ngào: “Thuê báo quí khách vừa gọi hiện đang ngoài vùng phủ sóng hoặc tắt máy, xin vui lòng liên lạc lại sau. The number you’ve called…”.

Kêu trời vì thất vọng, DiCapio chạy ào lên phòng người yêu, kéo cô chạy lên bong.
Đôi tình nhân dìu nhau lên những bậc thang chật hẹp. Lúc này trong tàu đã nhốn nháo vô cùng.

Dòng người đang xô đẩy bỗng chựng lại.

- Kẹt xe.

DiCaprio cáu:

- Trong tàu thuỷ làm sau kẹt xe được?

Bà con giải thích:

- Được. Xe mấy ông thuỷ thủ nhập lậu giấu kỹ, bây giờ nước ngập ai cũng lôi ra nên kẹt cứng rồi.

Đôi uyên ương lao tới chỗ để xuồng cấp cứu. Còn rất nhiều chỗ trống. Hai người định nhảy xuống xuồng thì một nhân viên chặn lại:

- Yêu cầu anh chị mua vé.

- Chúng tôi mua vé tàu rồi mà? – Winslet kêu to.

- Vé tàu khác, vé xuồng khác – Anh nhân viên giải thích – Y như ở công viên, vé vào cửa đâu kèm vé trò chơi!

DiCaprio đành thò tay vào túi, rút ra tờ 100 USD. Người bán vé cầm lấy, điện thoại vào đất liền hỏi tỉ giá chính thức. Cô trực tổng đài cho biết là 8 giờ sáng mới có giá mới, còn nếu tính theo giá hôm qua thì DiCaprio bị thiệt 2 chục ngàn. Đang giằng co thì có một bà béo chạy lại đon đả:

- Anh giai để em đổi theo giá ngoài, vừa nhanh vừa cao hơn.

Tính ra theo cái “giá ngoài” đó thì DiCaprio chỉ bị thiệt có 18 ngàn mà thôi.

Đúng lúc nguy cấp thì điện tắt phụt. Thiên hạ la rầm trời đất. Thuyền trưởng chạy tới quay điện thoại hỏi lý do. Suốt tiếng đồng hồ máy bên kia cứ bận liên tục, cuối cùng thuyền trưởng phải cử thuyền phó xuống tận nơi thì được thông báo:

- Một con chuột chạy lụt mắc kẹt ở đường dây và đã bị nướng chín vàng khiến đường dây chập mạch. Phải tìm ngay một con mèo.

Lúc này mối nguy hiểm đã cận kề. Tàu Titanic kêu răng rắc như răng bà lão và gãy làm đôi. Tất cả tranh nhau xuống xuồng và tranh nhau phao cấp cứu. Lượng phao ít hơn lượng người nên đôi tình nhân chỉ được có một chiếc. Họ cứ nhường nhau, nước mắt đầm đìa rất cảm động. Âm nhạc nổi lên tha thiết. Hơn một ngàn rưởi hành khách sắp chết đuối vì thiếu phao. Tàu sắp chìm sâu xuống đại dương. Bỗng nhiên thuyền trưởng vụt nhớ lại kỳ thi tốt nghiệp THPT của mình. Ông cởi chiếc phao trên thân, đưa vào máy Photocopy nhanh chóng in ra hàng ngàn chiếc. Thế là hành khách ai cũng có đủ, thậm chí một người được dăm bảy loại phao. Một điều lạ là trên các loại phao này lại ghi chi chít những công thức toán học, các bài văn mẫu. Nhưng lúc nước sôi lửa bỏng thế này, có phao là tốt rồi nên cũng không ai để ý mà đều ôm phao nhảy ào xuống biển.

Titanic chìm xuống. Tất cả mọi người đều nổi lên. Pháo bông bắn rực trời. Trên nền trời đêm hiện lên dòng chữ: Tỷ lệ “nổi” đạt 100%. Caprio và Winslet ôm nhau hôn thắm thiết!

Bộ phim kết thúc.